Cần đầu tư xây dựng một cách công phu, bài bản Chiến lược Trí tuệ nhân tạo quốc gia phù hợp nhất với Việt Nam.

Chiến lược này cần bao gồm việc xác định đúng quy mô thị trường trí tuệ nhân tạo (TTNT) Việt Nam theo kỳ vọng và xây dựng các chính sách tạo động lực tăng cường quy mô thị trường TTNT Việt Nam theo kỳ vọng đó.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy.

Trong bối cảnh của Việt Nam, cần thiết phải xác định rõ bối cảnh, mục tiêu và các biện pháp hướng tới mục tiêu trong chiến lược quốc gia về TTNT.

Thứ nhất, cần xác định đúng quy mô thị trường TTNT Việt Nam hiện và theo kỳ vọng chiến lược của một quốc gia xếp hạng 29 vào năm 2030, xếp hạng 20 vào năm 2050 tính theo GDP trên thế giới. Tránh kỳ vọng chiến lược bị phóng đại hoặc bị hạ thấp quá mức.

Hiện tại, chưa có báo cáo khảo sát chính thức về quy mô thị trường TTNT Việt Nam. Theo đó, các báo cáo về thị trường TTNT thế giới và khu vực của các công ty khảo sát có uy tín trên thế giới chưa cho thông tin về Việt Nam. Điều đó có nghĩa là thị trường TTNT Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé.

Ngoài ra, qua trao đổi với đại diện một số doanh nghiệp tại Hội nghị AI4Life-2018, chúng tôi tiếp thu được một điều là TTNT chưa thành hạng mục đầu tư của nhiều doanh nghiệp Việt Nam và nếu có chỉ chiếm một phần không đáng kể. Đó là các chỉ báo cho thấy thị trường TTNT Việt Nam hiện còn rất nhỏ và độ cam kết của các doanh nghiệp Việt Nam đóng góp vào thị trường TTNT chưa rõ ràng.

Như vậy, một mặt Việt Nam có lợi thế là có vị trí địa lý kề cận với một trung tâm TTNT là Đông Bắc Á (chiếm tới 50,32% lợi ích toàn cầu từ TTNT năm 2030 theo dự báo), mặt khác, Việt Nam có hạn chế là thị trường TTNT hiện thời quá nhỏ bé. Tìm ra các biện pháp để khắc phục được hạn chế và khai thác tốt lợi thế để tăng trưởng nhanh thị trường nội địa và xuất khẩu sản phẩm TTNT Việt Nam (bao gồm cả sản phẩm gia công) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng (chẳng hạn, thị trường TTNT Nhật Bản đạt khoảng 87000 tỷ Yên vào năm 2030).

Đối với thị trường TTNT nội địa, với vai trò vừa là người tiêu dùng lớn nhất vừa là tác nhân có trách nhiệm dẫn dắt phát triển nền kinh tế đất nước, Nhà nước ta cần là nhà đầu tư chiến lược vào những thành phần TTNT cốt lõi của quốc gia, trước mắt là đầu tư xây dựng một cách công phu bài bản Chiến lược TTNT quốc gia phù hợp nhất với Việt Nam, chiến lược đó cần bao gồm việc xác định đúng quy mô thị trường TTNT Việt Nam theo kỳ vọng và xây dựng các chính sách tạo động lực tăng cường quy mô thị trường TTNT Việt Nam theo kỳ vọng đó.

Nhà nước ta cần là nhà đầu tư chiến lược vào những thành phần TTNT cốt lõi của quốc gia, trước mắt là đầu tư xây dựng một cách công phu bài bản Chiến lược TTNT quốc gia phù hợp với Việt Nam.

Nhà nước ta cần là nhà đầu tư chiến lược vào những thành phần TTNT cốt lõi của quốc gia, trước mắt là đầu tư xây dựng một cách công phu bài bản Chiến lược TTNT quốc gia phù hợp với Việt Nam.

Thứ hai, cần xác định chính xác các cơ hội và thách thức đối với sự phát triển TTNT Việt Nam. Như đã được đề cập, TTNT là một lĩnh vực hội tụ nhiều ngành thuộc nhiều lĩnh vực, nên nhận thức về TTNT cũng như về công nghệ TTNT là rất đa dạng.

Nghiên cứu của E.Brynjolfsson và cộng sự về “nghịch lý năng suất hiện đại” của công nghệ (nói riêng công nghệ TTNT) cho thấy xu hướng khác biệt giữa đánh giá lạc quan của giới công nghệ và giới đầu tư mạo hiểm với đánh giá bi quan của giới kinh tế, xã hội học, thống kê và quan chức chính quyền. Nếu không dựa trên một khung nhìn khoa học trung thực, việc đánh giá cơ hội và thách thức đối vói sự phát triển TTNT Việt Nam dễ rơi vào một trạng thái cực đoan theo một phía lạc quan hoặc bi quan.

Thứ ba, cần khảo sát, phân tích một cách khoa học các nội dung chiến lược TTNT quốc gia của các nước trên thế giới. Chiến lược quốc gia phát triển TTNT Việt Nam cần đặt NC-PT theo mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, có mục tiêu ngắn hạn và tổng thể, nghiên cứu cơ bản theo mục tiêu chiến lược phát triển đất nước dài hạn của Chính phủ. Nền tảng khoa học cơ bản là rất quan trọng trong xây dựng chiến lược quốc gia về TTNT.

Chiến lược Quốc gia cũng cần xây dựng được các chính sách thúc đẩy sự chung tay đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam cho một thị trường kinh tế số (nói chung) và thị trường TTNT (nói riêng) bền vững, đồng thời, cần giảm thiểu tác động từ cách tiếp cận theo mục tiêu kinh doanh ngắn hạn của doanh nghiệp tới chiến lược quốc gia và chính sách Nhà nước. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng giảm thiểu, làm triệt tiêu bốn nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của đất nước đã được Thủ tướng Chính phủ nhận diện, ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng tiếp cận cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý Nhà nưóc.

Trong mọi trường hợp, một nhận thức đúng đắn về TTNT, về công nghiệp TTNT, về điều kiện cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế để hiểu biết đúng và phát huy thế mạnh, để giảm thiểu và khắc phục hạn chế là những yếu tố cốt lõi, tiên quyết cho xây dựng và thực hiện thành công chiến lược phát triển TTNT và nền kinh tế số của Việt Nam.

Bùi Thế Duy – Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (Diễn đàn kinh tế năm 2019)