A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Bảo đảm thi hành hiệu quả Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt

Ngày 29-9-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1870/QĐ-TTg kèm theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (sau đây viết tắt là Kế hoạch, VKHDHL). Hiện nay, Cục Pháp chế Bộ Quốc phòng đang tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với Binh chủng Hóa học và các cơ quan liên quan để thực hiện Kế hoạch; giúp Chính phủ, Bộ Quốc phòng kịp thời ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, bảo đảm cho luật được áp dụng thống nhất và phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân phỏng vấn Đại tá Bùi Hoàng Anh, Phó cục trưởng Cục Pháp chế Bộ Quốc phòng xung quanh các nội dung này.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí Phó cục trưởng Cục Pháp chế Bộ Quốc phòng, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL có ý nghĩa quan trọng như thế nào?

Đại tá Bùi Hoàng Anh.

Đại tá Bùi Hoàng Anh: Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL có hiệu lực từ ngày 1-7-2027, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để phòng ngừa, phát hiện, cảnh báo sớm, ngăn chặn và xử lý hoạt động phổ biến, tài trợ phổ biến VKHDHL; quy định các nguyên tắc, biện pháp, nguồn lực, cơ chế phối hợp liên ngành, cơ quan đầu mối quốc gia và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có liên quan. Để các quy định này đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra không chỉ là ban hành đầy đủ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành trước ngày luật có hiệu lực, mà còn phải bảo đảm các quy định có thể được thực hiện thống nhất, thuận lợi và đúng pháp luật. Nếu văn bản chậm ban hành, thiếu đồng bộ hoặc chưa xác định rõ thẩm quyền, trình tự và trách nhiệm thực hiện, việc áp dụng luật có thể gặp khó khăn ngay từ giai đoạn đầu. Ngược lại, văn bản được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng và phù hợp với điều kiện thực tế sẽ tạo cơ sở để các cơ quan chủ động thực hiện nhiệm vụ, tổ chức, cá nhân nhận diện đúng nghĩa vụ và các chủ thể liên quan phối hợp hiệu quả, góp phần kiến tạo phát triển.

PV: Theo Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu đặt ra trước mắt với nhiệm vụ này là gì, thưa đồng chí?

Đại tá Bùi Hoàng Anh: Để Kế hoạch đạt hiệu quả, các nhiệm vụ phải được triển khai theo một quy trình thống nhất, trong đó kết quả rà soát pháp luật là căn cứ xây dựng văn bản; văn bản là cơ sở tổ chức thực hiện; còn công tác phổ biến, bố trí nguồn lực và kiểm tra là những điều kiện bảo đảm các quy định được thực thi trên thực tế.

Trước hết, cần hoàn thành việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan theo thời hạn Kế hoạch, chậm nhất là ngày 31-12-2026. UBND cấp tỉnh rà soát văn bản do HĐND, UBND cùng cấp ban hành; các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan, tổ chức liên quan rà soát văn bản thuộc phạm vi quản lý. Kết quả rà soát phải xác định rõ văn bản, quy định cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc nội dung cần ban hành mới, kèm theo căn cứ và phương án xử lý; các cơ quan gửi kết quả về Bộ Quốc phòng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Giá trị của công tác rà soát không chỉ nằm ở việc thống kê các văn bản hiện hành mà quan trọng hơn là xác định chính xác những nội dung cần hoàn thiện để bảo đảm luật được thực hiện thống nhất. Vì vậy, việc rà soát cần làm rõ 3 nhóm vấn đề: Nội dung đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh; nội dung cần có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và nội dung được luật giao quy định chi tiết. Trên cơ sở đó, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể xác định đúng phạm vi điều chỉnh của văn bản, kế thừa những quy định còn phù hợp, xử lý các quy định mâu thuẫn, chồng chéo và tránh quy định lại những vấn đề đã được điều chỉnh đầy đủ. Kết quả rà soát phải được sử dụng trực tiếp trong quá trình soạn thảo, thay vì chỉ dừng lại ở báo cáo tổng hợp.

Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban thẩm tra sơ bộ dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt ngày 14-7-2026. Ảnh: QUYẾT TÂM

Trên cơ sở kết quả rà soát, nhiệm vụ tiếp theo là xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật. Theo Kế hoạch, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật đối với 16 nội dung được giao với thời hạn trình trong quý I-2027. Đây là nhiệm vụ có yêu cầu cao về tiến độ và chất lượng, bởi các quy định của nghị định sẽ trực tiếp cụ thể hóa những nội dung luật giao và tạo căn cứ cho hoạt động quản lý, kiểm soát, phối hợp giữa các cơ quan. Để bảo đảm tiến độ, cơ quan chủ trì soạn thảo cần lập kế hoạch soạn thảo cụ thể cho từng nội dung, xác định rõ cơ quan, đơn vị đầu mối, thời hạn hoàn thành từng khâu và trách nhiệm của các bên liên quan. Những vấn đề liên ngành phải được trao đổi, thống nhất ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách và dự thảo, hạn chế tình trạng chậm tiến độ do bất đồng về phạm vi quản lý hoặc thẩm quyền giải quyết.

PV: Chất lượng là yêu cầu tối quan trọng để văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất và phát huy hiệu quả thi hành trong thực tiễn. Đồng chí có thể cho biết rõ hơn về yêu cầu này?

Đại tá Bùi Hoàng Anh: Cùng với yêu cầu về tiến độ, chất lượng văn bản phải được bảo đảm trong toàn bộ quy trình xây dựng và ban hành. Mỗi quy định cần có căn cứ pháp lý rõ ràng, đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục và phù hợp với mục đích của luật. Đặc biệt, cần phân định rõ nội dung thuộc thẩm quyền quy định chi tiết với nội dung thuộc thẩm quyền tổ chức thi hành; không sử dụng văn bản hướng dẫn để bổ sung nghĩa vụ, điều kiện hoặc hạn chế quyền của tổ chức, cá nhân khi chưa có căn cứ pháp luật. Đồng thời, phải đối chiếu dự thảo với các quy định pháp luật liên quan về quốc phòng, an ninh, hải quan, thương mại, hóa chất, năng lượng nguyên tử, phòng, chống rửa tiền và ngân hàng để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Các nội dung liên quan đến nghĩa vụ quốc tế cần được xem xét trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có liên quan, phù hợp với khuôn khổ pháp luật Việt Nam.

Tính rõ ràng của quy định là điều kiện trực tiếp để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng. Đối với các nội dung như đánh giá rủi ro, xây dựng và sử dụng danh mục kiểm soát, xác minh người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng và xử lý cảnh báo, văn bản cần xác định cụ thể căn cứ áp dụng, thẩm quyền, trình tự, thời hạn, trách nhiệm phối hợp và kết quả xử lý. Thuật ngữ, tiêu chí, biểu mẫu và yêu cầu về thông tin, hồ sơ cũng cần được quy định thống nhất. Khi các yếu tố này chưa rõ, cơ quan thực thi có thể áp dụng khác nhau đối với cùng một tình huống, làm giảm hiệu quả kiểm soát và gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện nghĩa vụ. Ngược lại, quy định cụ thể sẽ giúp xác định rõ việc gì phải làm, cơ quan nào chịu trách nhiệm, thời hạn giải quyết ra sao và kết quả xử lý được sử dụng như thế nào.

Tuy nhiên, một quy định đầy đủ và rõ ràng về mặt pháp lý chưa chắc đã khả thi nếu không tính đến điều kiện thực hiện. Vì vậy, trong quá trình soạn thảo cần đánh giá đồng thời yêu cầu quản lý, nguồn nhân lực, kinh phí, hạ tầng kỹ thuật, khả năng kết nối dữ liệu và chi phí tuân thủ của đối tượng chịu tác động. Các yêu cầu báo cáo, kiểm soát nội bộ và lưu giữ hồ sơ phải tương xứng với mức độ rủi ro; việc trao đổi, chia sẻ thông tin phải xác định rõ phạm vi, mục đích sử dụng, quyền truy cập và trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, dữ liệu cá nhân. Đối với biện pháp tác động đến tài khoản, tài sản hoặc giao dịch, cần quy định rõ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Đồng thời, phải xác định phương án xử lý đối với hồ sơ, giao dịch và nghĩa vụ đang thực hiện khi quy định mới có hiệu lực, bảo đảm hoạt động quản lý được liên tục và hạn chế ảnh hưởng không cần thiết đến hoạt động hợp pháp.

Để kiểm chứng chất lượng dự thảo, cơ quan chủ trì cần tổ chức khảo sát thực tiễn, đăng tải dự thảo và lấy ý kiến thực chất từ cơ quan thực thi, địa phương, chuyên gia và đối tượng chịu tác động. Việc tham vấn phải tập trung làm rõ liệu quy định có giải quyết đúng vấn đề đặt ra, có phù hợp với chức năng, thẩm quyền của cơ quan thực hiện và có tạo ra chi phí tuân thủ không cần thiết hay không. Các ý kiến về thủ tục trùng lặp, trách nhiệm chưa rõ, khó khăn trong trao đổi thông tin hoặc thiếu điều kiện bảo đảm cần được phân tích, tiếp thu hoặc giải trình đầy đủ, có căn cứ. Qua đó, những bất cập có thể dự báo phải được xử lý ngay trong quá trình xây dựng văn bản, thay vì chờ phát sinh trong thực tiễn mới điều chỉnh.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Tin liên quan