
Tiền sử dụng đất khi chuyển đất vườn, ao sang đất ở được tính một lần trên một thửa đất. Ảnh: Như Hạ
Một người dân gửi câu hỏi đến Bộ Tài chính đề nghị hướng dẫn việc áp dụng chính sách tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 đối với diện tích đất nông nghiệp khoảng 133m² có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền với đất ở.
Theo trình bày, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2005. Năm 2011, gia đình xây dựng nhà cấp 4 trên đất và sử dụng, sinh sống ổn định liên tục đến nay.
Do bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người dân thực hiện thủ tục xin cấp lại. Trong quá trình giải quyết hồ sơ, phần diện tích đất nêu trên được xác định có nhu cầu chuyển mục đích sang đất ở và thuộc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Người dân cho biết đã bị UBND xã xử phạt vi phạm hành chính và đã nộp tiền phạt theo quy định.
Từ thực tế trên, người dân đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn liệu trường hợp chuyển mục đích sử dụng 133m² đất sang đất ở có thuộc đối tượng được áp dụng chính sách tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không.
Đồng thời, việc gia đình từng xây dựng nhà trên đất, bị xử phạt vi phạm hành chính và đã chấp hành nộp phạt có ảnh hưởng đến quyền được áp dụng chính sách hay không. Nếu thuộc đối tượng áp dụng, người dân đề nghị xác định tỉ lệ tiền sử dụng đất phải nộp và căn cứ pháp lý cụ thể.
Trả lời nội dung này, Bộ Tài chính dẫn điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11.12.2025 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01.01.2026.
Theo quy định, đối với các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất thuộc phạm vi điều chỉnh, tiền sử dụng đất được tính theo các mức sau:
30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở tại địa phương.
50% chênh lệch đối với diện tích vượt hạn mức nhưng không quá một lần hạn mức giao đất ở tại địa phương.
100% chênh lệch đối với diện tích vượt hạn mức mà vượt quá một lần hạn mức giao đất ở tại địa phương.
Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân, tính trên một thửa đất.
Bộ Tài chính cho biết, Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31.01.2026 của Chính phủ đã quy định cụ thể về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15.
Đồng thời, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn số 7713/BTC-QLCS hướng dẫn cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng chính sách này.
Theo đó, có ba trường hợp được áp dụng quy định về mức thu tiền sử dụng đất:
Thứ nhất, đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất.
Thứ hai, đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất.
Thứ ba, đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01.7.2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.
Liên quan đến việc xác định nghĩa vụ tài chính, Bộ Tài chính dẫn quy định tại Điều 44, Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 291/2025/NĐ-CP và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP.
Theo đó, cơ quan có chức năng quản lý đất đai và văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xác định địa điểm, vị trí, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng đất và thời điểm tính tiền sử dụng đất.
Cơ quan thuế căn cứ quy định pháp luật và Phiếu chuyển thông tin do cơ quan có chức năng quản lý đất đai cùng các cơ quan khác chuyển đến để tính tiền sử dụng đất, số tiền sử dụng đất được miễn, giảm và thông báo cho người sử dụng đất.


