Quy định số 227-QĐ/TW nhấn mạnh, việc đánh giá phải kết hợp giữ tiêu chí định tính với tiêu chí định lượng, trong đó, đặc biệt chú trọng tiêu chí định lượng về chất lượng sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao, bảo đảm yêu cầu “6 rõ: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền” và nguyên tắc “Một xuyên suốt: Một việc - một đầu mối chịu trách nhiệm chính”. Kết quả đánh giá phải bảo đảm khách quan, minh bạch, có căn cứ kiểm chứng, làm cơ sở cho công tác bố trí, sử dụng cán bộ và thực hiện chế độ, chính sách.

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Báo Chính phủ
Tiêu chí đánh giá: Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo
Theo Quy định số 227-QĐ/TW, việc đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể định kỳ hằng năm và cá nhân định kỳ hằng quý, hằng năm được thực hiện trên cơ sở hai nhóm tiêu chí.
Thứ nhất là nhóm tiêu chí chung, đánh giá theo mức độ đáp ứng các tiêu chí chung do cấp có thẩm quyền cụ thể hóa phù hợp với từng nhóm đối tượng. Nhóm tiêu chí này không chấm điểm mà được đánh giá theo bốn mức: “Thực hiện tốt”, “Bảo đảm”, “Cơ bản bảo đảm” và “Không bảo đảm”. Trong đó, mức “Thực hiện tốt” tương ứng với việc đáp ứng 100% tiêu chí; mức “Bảo đảm” là đáp ứng từ 90% đến dưới 100%; mức “Cơ bản bảo đảm” là đáp ứng từ 60% đến dưới 90%; mức “Không bảo đảm” là đáp ứng dưới 60% tiêu chí.
Thứ hai là nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ, với thang điểm tối đa 100 điểm, gồm hai nhóm nhiệm vụ: nhiệm vụ thường xuyên và nhiệm vụ trọng tâm, then chốt. Cấp có thẩm quyền xác định hệ số hoặc tỷ trọng điểm phù hợp với từng nhóm, bảo đảm tổng điểm tối đa không thay đổi.
Nội dung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được xác định theo 6 trục kết quả trọng tâm, gồm: (1) Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ chính trị được giao; (2) Xây dựng thể chế, tổ chức thực thi và phân cấp, phân quyền; (3) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu; (4) Xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và liêm chính; (5) Phục vụ Nhân dân, phát triển con người, văn hóa và xã hội; (6) Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Các trục kết quả này được vận dụng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phạm vi phụ trách của từng tập thể, cá nhân. Những nhiệm vụ, công việc, sản phẩm không thuộc chức năng, nhiệm vụ hoặc phạm vi phụ trách trực tiếp chỉ được sử dụng để xem xét, phân tích, không tính điểm.
Quy định như vậy góp phần bảo đảm việc đánh giá sát với vị trí công tác, tránh tình trạng áp dụng một cách máy móc các tiêu chí chung cho những đối tượng có chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực hiện công việc khác nhau.
4 mức xếp loại với điều kiện cụ thể
Theo Điều 11, Quy định số 227-QĐ/TW xác định 4 mức xếp loại chất lượng, đi kèm những điều kiện cụ thể.
Đối với mức “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, tập thể, cá nhân phải đáp ứng 100% tiêu chí chung, đạt tổng điểm từ 90 điểm trở lên, hoàn thành 100% mục tiêu trọng tâm, then chốt. Đồng thời, từ 30% tổng số nhiệm vụ, công việc trở lên phải có kết quả vượt mục tiêu về chất lượng, hiệu quả hoặc tiến độ; có giải pháp đột phá, nổi trội, tạo chuyển biến rõ rệt, tích cực và giá trị thiết thực, được kiểm chứng bằng kết quả, sản phẩm, dữ liệu.
Đối với mức “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”, kết quả thực hiện nhóm tiêu chí chung phải đạt từ mức “Bảo đảm” trở lên; tổng điểm đạt từ 80 điểm trở lên và không có nhiệm vụ trọng tâm, then chốt không hoàn thành do nguyên nhân chủ quan.
Đối với mức “Hoàn thành nhiệm vụ”, tập thể, cá nhân phải đạt mức “Cơ bản bảo đảm” trở lên đối với nhóm tiêu chí chung và tổng điểm từ 60 đến dưới 80 điểm.
Đối với mức “Không hoàn thành nhiệm vụ”, một trong những căn cứ là nhóm tiêu chí chung ở mức “Không bảo đảm” hoặc tổng điểm thực hiện nhiệm vụ dưới 60 điểm. Ngoài ra, quy định còn xác định những trường hợp cụ thể liên quan đến sai phạm trong công tác cán bộ, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hoặc không hoàn thành các mục tiêu trọng tâm, then chốt do nguyên nhân chủ quan.
Đối với các trường hợp có khuyết điểm, vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật, cấp có thẩm quyền phải xem xét theo những điều kiện cụ thể được quy định, trong đó có tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân và quá trình khắc phục. Quy định cũng lưu ý trường hợp tập thể, cá nhân chủ động phát hiện, báo cáo, xử lý vi phạm và khắc phục hậu quả để xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, thận trọng.
Việc quy định cụ thể các ngưỡng điểm và điều kiện xếp loại tạo cơ sở để hạn chế tình trạng đánh giá bình quân, cào bằng. Đặc biệt, điều kiện đối với mức “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” đặt ra yêu cầu cao hơn việc hoàn thành các chỉ tiêu thông thường, đòi hỏi kết quả vượt trội có thể kiểm chứng.

Không chỉ xác định tiêu chí, thang điểm và mức xếp loại, Quy định số 227-QĐ/TW còn thiết lập quy trình đánh giá thống nhất, liên thông giữa đánh giá hàng quý với đánh giá hàng năm và xuyên suốt quá trình công tác. Ảnh: M.Nguyệt
Đánh giá xuyên suốt, có sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng
Không chỉ xác định tiêu chí, thang điểm và mức xếp loại, Quy định số 227-QĐ/TW còn thiết lập quy trình đánh giá thống nhất, liên thông giữa đánh giá hàng quý với đánh giá hàng năm và xuyên suốt quá trình công tác, từ lập kế hoạch phân công nhiệm vụ; theo dõi, cập nhật kết quả; tự đánh giá, xếp loại cho đến thẩm định, đề xuất mức xếp loại và xem xét, quyết định mức đánh giá, xếp loại; cập nhật, quản lý và sử dụng kết quả.
Theo đó, Điều 12 quy định, ngay từ đầu kỳ đánh giá hằng quý, đầu năm hoặc khi phát sinh nhiệm vụ mới, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí việc làm và chương trình, kế hoạch công tác, yêu cầu nhiệm vụ chính trị, cấp có thẩm quyền phải lập kế hoạch phân công nhiệm vụ, xác định mục tiêu trọng tâm, then chốt và danh mục công việc gắn với sản phẩm cụ thể của từng tập thể, cá nhân.
Trong quá trình thực hiện, tập thể, cá nhân có trách nhiệm thường xuyên cập nhật tiến độ, kết quả và sản phẩm thực hiện nhiệm vụ theo quy định. Cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ hoặc bộ phận được giao quản lý có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp dữ liệu, kịp thời phát hiện, cảnh báo, đôn đốc và đề xuất điều chỉnh đối với những nhiệm vụ có nguy cơ chậm tiến độ hoặc không bảo đảm yêu cầu.
Cuối mỗi quý, cuối năm hoặc trước thời điểm thực hiện đánh giá theo yêu cầu, đối tượng thuộc diện đánh giá, xếp loại theo từng kỳ thực hiện tự đánh giá, chấm điểm theo khung tiêu chí và xác định mức xếp loại. Kết quả này tiếp tục được thẩm định trên cơ sở đối chiếu với dữ liệu quản lý, kết quả công việc và các thông tin liên quan trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Quy định số 227-QĐ/TW cũng nhấn mạnh, kết quả đánh giá phải căn cứ vào số lượng, tiến độ, chất lượng sản phẩm đầu ra; mức độ khó, phức tạp và phạm vi tác động của từng nhiệm vụ. Điều đó có nghĩa, không thể chỉ đếm số lượng công việc đã hoàn thành mà bỏ qua chất lượng, hiệu quả và giá trị thực tế của sản phẩm.
Đối với những nhiệm vụ kéo dài qua nhiều kỳ đánh giá, kết quả và sản phẩm từng kỳ phải được cập nhật, tổng hợp liên tục. Việc đánh giá cuối cùng phải xem xét toàn bộ quá trình thực hiện, không tách rời hoặc chỉ căn cứ vào kết quả của một kỳ riêng lẻ.
Có thể thấy, Quy định số 227-QĐ/TW đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cả chủ thể được đánh giá và cơ quan có thẩm quyền đánh giá. Điều này, không chỉ tạo cơ sở để đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân thực chất, công bằng hơn mà còn góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Điều 7, Quy định 227-QĐ/TW quy định cách thức kiểm điểm như sau:
1. Chuẩn bị kiểm điểm
1.1. Người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo chuẩn bị báo cáo kiểm điểm tập thể và lấy ý kiến tham gia, góp ý của các tập thể, cá nhân có liên quan.
1.2. Cá nhân chuẩn bị bản tự kiểm điểm theo nội dung quy định.
1.3. Cấp trên gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân theo phân cấp quản lý khi cần thiết.
2. Nơi kiểm điểm
2.1. Cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, quản lý ở cấp nào thì thực hiện kiểm điểm ở cấp đó.
2.2. Đảng viên kiểm điểm ở chi bộ nơi sinh hoạt.
2.3. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ bản thực hiện kiểm điểm ở 2 nơi (ở chi bộ nơi sinh hoạt và tập thể lãnh đạo, quản lý nơi làm việc). Việc kiểm điểm đối với cán bộ giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, quản lý thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
2.4. Trường hợp tập thể lãnh đạo, quản lý tại Tiết b, Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 5 Quy định này cũng là thành viên của cấp ủy tại địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi công tác thì kiểm điểm tập thể và cá nhân thành viên của tập thể đó tại hội nghị kiểm điểm của cấp ủy theo quy định; bảo đảm đầy đủ các nội dung theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao.
Ngoài các trường hợp đã nêu tại Tiết 2.1, 2.3, 2.4, Khoản 2 Điều này, cấp có thẩm quyền chịu trách nhiệm xem xét, quyết định việc thực hiện kiểm điểm bảo đảm đúng quy định.
3. Trình tự kiểm điểm
3.1. Đối với kiểm điểm tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý: Kiểm điểm tập thể trước, cá nhân kiểm điểm sau; người đứng đầu kiểm điểm trước, cấp phó và các thành viên kiểm điểm sau; tập thể lãnh đạo, quản lý của chính quyền, chuyên môn, đoàn thể kiểm điểm trước, cấp ủy kiểm điểm sau.
3.2. Đối với đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Kiểm điểm ở chi bộ trước, ở tập thể lãnh đạo, quản lý kiểm điểm sau.
4. Thời gian tổ chức kiểm điểm
Thời gian tổ chức kiểm điểm phải bảo đảm đủ thời gian, phù hợp với yêu cầu, nội dung kiểm điểm; thời lượng cụ thể do cấp có thẩm quyền quyết định theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.


