Tăng lương tối thiểu vùng tại Đắk Lắk: "Đòn bẩy" từ sự hài hòa lợi ích giữa "ba nhà"

Việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng theo quy định mới của Chính phủ đang mang lại niềm vui rõ rệt cho người lao động tại Đắk Lắk. Không chỉ cải thiện thu nhập, chính sách này còn đặt ra yêu cầu về sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước – doanh nghiệp – người lao động, để tăng lương thực sự trở thành động lực cho phát triển bền vững.

 

Môi trường làm việc an toàn, ổn định là nền tảng để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả. Ảnh: NG

Doanh nghiệp chủ động chia sẻ, người lao động được hưởng lợi

Tại nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, việc tăng lương tối thiểu vùng không phải là cú sốc, mà là một bước điều chỉnh đã được chuẩn bị từ trước. Công ty Cổ phần Du lịch Cộng đồng Kotam là một ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận hài hòa lợi ích giữa các bên.

Ra đời với mục tiêu tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động địa phương, Công ty Cổ phần Du lịch Cộng đồng Kotam đã xây dựng mô hình sản xuất – kinh doanh theo hướng bền vững, coi người lao động là trung tâm.

Hiện doanh nghiệp này tạo việc làm thường xuyên cho hơn 50 lao động và việc làm thời vụ cho khoảng 100 lao động địa phương. Mức lương bình quân đạt 10,7 triệu đồng/người/tháng; 100% người lao động được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động, khám sức khỏe định kỳ và tham gia các hoạt động phúc lợi hằng năm.

Hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Công ty Cổ phần Du lịch Cộng đồng Kotam (Đắk Lắk). Ảnh: NG

Đáng chú ý, hằng năm công ty đều thực hiện tăng lương khoảng 10% cho nhân viên, căn cứ vào vị trí và hiệu quả công việc. Nhờ đó, mức thu nhập của người lao động tại đây cao hơn đáng kể so với lương tối thiểu vùng. Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Cộng đồng Kotam, việc thực hiện lương tối thiểu vùng theo quy định mới đòi hỏi sự chủ động và linh hoạt của doanh nghiệp, cùng với sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa “ba nhà”: Nhà nước – doanh nghiệp – người lao động.

“Nhà nước giữ vai trò kiến tạo hành lang pháp lý, giám sát công bằng; doanh nghiệp phải thực thi trách nhiệm, chia sẻ lợi ích; còn người lao động cần đồng hành, nỗ lực nâng cao năng suất. Khi ba yếu tố này vận hành hài hòa, việc tăng lương không chỉ là chi phí, mà là đầu tư cho sự phát triển lâu dài”, bà Ngọc Anh nhấn mạnh.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp quan tâm đến phúc lợi và thu nhập của người lao động thường có đội ngũ ổn định, gắn bó, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường.

Chính sách an sinh và kỳ vọng lan tỏa động lực phát triển

Ở góc độ quản lý nhà nước, việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng năm 2026 được đánh giá là bước đi quan trọng trong lộ trình cải cách chính sách tiền lương. Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk, hiện nay lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trên địa bàn tỉnh khoảng 1,6 triệu người. Trong đó, khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm tới 65%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 8,6%; dịch vụ 25,4%; khu vực Nhà nước khoảng 7%.

Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng không chỉ góp phần nâng thu nhập cho người lao động, mà còn giúp ổn định thị trường lao động, bảo vệ nhóm lao động yếu thế, tạo thêm động lực làm việc và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Thực tế năm 2025 cho thấy, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã quan tâm hơn đến chính sách tiền lương. Báo cáo từ 105 doanh nghiệp cho thấy không có đơn vị nào nợ lương người lao động; mức lương bình quân đạt 8,95 triệu đồng/tháng, dù vẫn còn sự chênh lệch lớn giữa các vị trí và lĩnh vực.

Người lao động làm việc tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được cải thiện thu nhập nhờ chính sách tăng lương tối thiểu vùng. Ảnh: NG

Bước sang năm 2026, khi lương tối thiểu vùng tiếp tục được điều chỉnh tăng, niềm vui của người lao động là điều dễ nhận thấy. Với anh Nguyễn Gia Long, công nhân Công ty Cổ phần Thép Asean tại Khu công nghiệp Hòa Phú, mức tăng dù không lớn nhưng mang ý nghĩa tinh thần rất rõ rệt. Trong hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ mắc bệnh hiểm nghèo, thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc lương tăng thêm vài trăm nghìn đồng cũng giúp anh giảm bớt áp lực chi phí sinh hoạt, xăng xe, nuôi con nhỏ.

“Đó là sự ghi nhận công sức lao động xứng đáng hơn và tạo thêm động lực để chúng tôi yên tâm làm việc”, anh Long chia sẻ.

Tuy nhiên, để chính sách tăng lương tối thiểu vùng phát huy trọn vẹn hiệu quả, cả người lao động và doanh nghiệp đều cần thích ứng linh hoạt. Người lao động phải không ngừng nâng cao tay nghề, ý thức kỷ luật và năng suất. Doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực quản trị để tối ưu chi phí và tăng sức cạnh tranh, thay vì cắt giảm phúc lợi.

Khi lợi ích được chia sẻ hài hòa và trách nhiệm được đặt đúng chỗ, tăng lương tối thiểu vùng sẽ không chỉ là niềm vui trước mắt của người lao động, mà còn trở thành “đòn bẩy” quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và nền kinh tế địa phương.