Khối lượng đất đá thải lớn, áp lực xử lý không nhỏ
Cùng với áp lực duy trì sản xuất và bảo đảm nguồn cung than cho nền kinh tế, ngành than đang bước vào giai đoạn phải giải quyết sâu hơn những vấn đề phát sinh sau khai thác. Trong đó, khối lượng đất đá thải mỏ lớn không chỉ là câu chuyện môi trường hay quản lý bãi thải, mà đang trở thành một phần trong định hướng tối ưu tài nguyên, tái sử dụng vật liệu và nâng cao hiệu quả phát triển bền vững của toàn ngành.
Từ câu chuyện sản xuất than, vấn đề quản trị tài nguyên sau khai thác đang trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Tại cuộc họp ở Trung tâm Điều hành sản xuất tại Quảng Ninh, Tổng giám đốc Tập đoàn Vũ Anh Tuấn đã trực tiếp chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai khai thác, thu hồi, sử dụng và kinh doanh đất đá thải mỏ, cho thấy đây không còn là câu chuyện kỹ thuật đơn thuần mà đã trở thành một nhiệm vụ mang tính chiến lược đối với ngành than.

Đất đá thải mỏ không chỉ tạo áp lực bãi thải mà còn mở ra dư địa cho sử dụng vật liệu thứ cấp trong ngành khai khoáng. (Ảnh minh hoạ)
Khối lượng đất đá thải phát sinh sau khai thác đang trở thành một áp lực ngày càng rõ với ngành than, không chỉ ở góc độ môi trường mà còn liên quan trực tiếp tới không gian đổ thải, tổ chức khai trường và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Theo rà soát của TKV, riêng tại Quảng Ninh - địa bàn khai thác than trọng điểm - quy hoạch đến năm 2030 và dự báo sau năm 2030 xác định 16 khu vực có thể khai thác, thu hồi và sử dụng đất đá thải tại 3 vùng Uông Bí - Đông Triều, Hòn Gai và Cẩm Phả, với tổng khối lượng khoảng 633,46 triệu m3. Tại Thái Nguyên và Lạng Sơn, thêm 5 khu vực khác cũng được xác định với tổng khối lượng khoảng 190,105 triệu m3. Đây là nguồn vật liệu có quy mô lớn, nhưng nếu không được quản lý và khai thác hợp lý sẽ tiếp tục tạo áp lực cho các bãi thải mỏ và làm gia tăng chi phí xử lý sau khai thác.
Ở góc độ khác, lượng đất đá thải này cũng cho thấy một dư địa chưa được khai thác hiệu quả trong ngành than. Khi nhu cầu vật liệu san lấp, vật liệu xây dựng tại nhiều dự án hạ tầng vẫn ở mức lớn, việc thu hồi và tái sử dụng đất đá thải mỏ có thể góp phần giảm áp lực tài nguyên, đồng thời nâng giá trị sử dụng của nguồn vật liệu thứ cấp vốn lâu nay chủ yếu bị xem là phần tồn dư sau khai thác.
Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tế triển khai vẫn còn khoảng cách. Nhiều phương án thu hồi, sử dụng đất đá thải hiện vẫn ở giai đoạn hoàn thiện hồ sơ, xin cấp phép hoặc đầu tư hạ tầng phục vụ vận chuyển, tiêu thụ. Một số dự án đã được chấp thuận chủ trương nhưng tiến độ thực hiện còn chậm hơn kỳ vọng. Cùng với đó là những vướng mắc liên quan đến thủ tục pháp lý, cơ chế phối hợp với địa phương, nhu cầu sử dụng thực tế từ các chủ đầu tư cũng như tổ chức vận chuyển qua các khu vực dân cư.
Nhìn rộng hơn, câu chuyện đất đá thải mỏ không còn dừng ở xử lý chất thải sau khai thác, mà đang đặt ra yêu cầu về cách ngành than quản trị tài nguyên theo hướng đồng bộ hơn. Để nguồn vật liệu này thực sự trở thành một phần của chuỗi giá trị, ngoài yếu tố kỹ thuật, vẫn cần sự đồng bộ về cơ chế quản lý, đầu ra thị trường và phối hợp liên ngành.
Từ “gánh nặng bãi thải” tới dư địa kinh tế tuần hoàn
Ở góc độ dài hạn, việc thu hồi và tái sử dụng đất đá thải mỏ không đơn thuần là giải quyết tồn dư sau khai thác mà còn mở ra hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên phục vụ san lấp, sản xuất vật liệu xây dựng và hỗ trợ các dự án hạ tầng có nhu cầu lớn.
Để đất đá thải mỏ thực sự trở thành nguồn vật liệu có giá trị, vấn đề không chỉ nằm ở khai thác hay chế biến mà còn ở khâu tổ chức thực hiện. Thực tế cho thấy, cơ chế ràng buộc đối với các chủ dự án có nhu cầu sử dụng đất đá thải, cũng như sự phối hợp với địa phương trong quá trình vận chuyển, vẫn là những mắt xích cần hoàn thiện nếu muốn đẩy nhanh tiến độ tiêu thụ và sử dụng hiệu quả nguồn vật liệu này.

Tổng giám đốc Tập đoàn Vũ Anh Tuấn chỉ đạo thúc đẩy triển khai tái sử dụng đất đá thải mỏ, thực hiện hiệu quả chủ trương phát triển kinh tế tuần hoàn. Ảnh: TKV
Tổng giám đốc TKV Vũ Anh Tuấn nhấn mạnh, việc khai thác, thu hồi, sử dụng và kinh doanh đất đá thải mỏ là chủ trương của TKV cùng các địa phương như Quảng Ninh, Thái Nguyên nhằm phục vụ vật liệu san lấp, vật liệu xây dựng cho các công trình có nhu cầu lớn, đồng thời giảm lượng đất đá thải tại bãi thải mỏ, tạo thêm không gian đổ thải cho sản xuất. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới, khó khăn và quá trình triển khai còn chậm. Vì vậy, ông yêu cầu các ban chuyên môn đánh giá cụ thể hơn tiến độ thực hiện, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, triển khai quyết liệt hơn, đưa vào kế hoạch và kiểm điểm tiến độ thường xuyên.
Đáng chú ý, lãnh đạo Tập đoàn cũng yêu cầu nghiên cứu chế biến sâu, phân loại đất đá thải phù hợp với từng công trình, dự án; thúc đẩy sử dụng hiệu quả nguồn vật liệu này để hiện thực hóa chủ trương phát triển kinh tế tuần hoàn.
Từ một loại “chất thải” từng chủ yếu gắn với bài toán môi trường, đất đá thải mỏ đang được nhìn nhận như một nguồn lực có thể tạo giá trị gia tăng nếu được quản trị bài bản. Với ngành than, đây không chỉ là giải pháp giảm áp lực bãi thải hay tối ưu khai trường, mà còn là bước đi cho thấy tư duy chuyển từ khai thác đơn thuần sang quản trị tài nguyên toàn diện, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị khoáng sản.
Việc thu hồi, tái sử dụng đất đá thải mỏ không chỉ giúp giảm áp lực bãi thải, tạo thêm không gian phục vụ khai thác than mà còn mở ra khả năng tận dụng nguồn vật liệu thứ cấp cho san lấp và sản xuất vật liệu xây dựng. Trong dài hạn, đây được xem là một hướng đi quan trọng để ngành than nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm chi phí xử lý sau khai thác và từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực khai khoáng.

